Nếu lưu lượng máu đến tim bị ngưng trệ sẽ khiến tim thiếu oxy và tế bào tim sẽ bị chết. Tình trạng này thuật ngữ y học gọi là nhồi máu cơ tim. Bệnh nhồi máu cơ tim gây ra tỷ lệ tử vong khá cao. Theo các nghiên cứu của các chuyên gia y khoa đầu ngành thì bệnh nhồi máu cơ tim gây ra các biến chứng cực kì nguy hiểm đến sức khỏe, có thể nguy hiểm đến tính mạng nếu không được phát hiện và điều trị sớm như:
– Suy tim: Thường xảy ra trong hai tuần đầu, đối với người bị nhồi máu cơ tim. Người bệnh có thể bị trụy mạch, tụt huyết áp, mạch nhanh, yếu và toát mồ hôi khiến người bệnh cảm thấy khó thở.
– Tai biến do tắc mạch: Do hình thành các cục máu đông gây nghẽn mạch máu dẫn đến đột quỵ. Tỉ lệ xảy ra biến chứng từ 20-40% trong 10 ngày đầu.
– Vỡ tim: biến chứng nguy hiểm nhất của nhồi máu cơ tim là có thể bị vỡ tim, vỡ thành tự do, vỡ vách liên thất gây tử vong đột ngột. Tỷ lệ xảy ra là từ 5-10%.
– Đau thần kinh nhạy cảm: người bệnh có cảm giác đau ê ẩm, nặng nề ở vùng trước tim, làm suy nhược cơ thể và tâm thần.
– Đau thấp khớp: Còn gọi là viêm quanh khớp cách tay, thường xảy ra vai và tay trái
Nguyên nhân gây ra nhồi máu cơ tim
Có 2 nguyên nhân chính gây tắc mạch vành: Mảng xơ vữa và cục máu đông. Ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim thường có sự kết hợp cả 2 yếu tố này: Khi mỡ lắng xuống xung quanh thành mạch chúng tạo ra những mảng xơ vữa, theo thời gian khối mỡ này dày lên, làm cho lòng mạch hẹp lại gây cản trở dòng máu lưu thông. Kết hợp với cục máu đông sẽ dẫn đến tắc hoàn toàn mạch vành và nhồi máu cơ tim xảy ra.
Nhồi máu cơ tim có thể xảy ra:
– Khi đang nghỉ ngơi hoặc ngủ.
– Sau khi hoạt động thể chất.
– Khi hoạt động bên ngoài trong thời tiết lạnh.
– Sau khi trải qua căng thẳng tinh thần hoặc suy giảm thể chất nghiêm trọng.
Triệu chứng của nhồi máu cơ tim
Nhồi máu cơ tim là tình trạng cần được cấp cứu. Nếu phát hiện thấy có những triệu chứng của một cơn nhồi máu cơ tim, cần nhanh chóng gọi cấp cứu và tìm kiếm sự giúp đỡ của người thân hoặc bạn bè.
– Không tự lái xe đến bệnh viện.
– Không chờ đợi.
Tỷ lệ tử vong cao nhất vì nhồi máu cơ tim xảy ra chính là vào giờ đầu tiên. Do đó việc chạy đua với thời gian là yếu tố sống còn quyết định sinh mạng của bệnh nhân. Đau ngực là triệu chứng phổ biến nhất của một cơn nhồi máu cơ tim. Người bệnh có thể chỉ cảm thấy đau ở một phần của cơ thể hay cơn đau lan tỏa từ ngực đến cánh tay, vai, cổ, răng, hàm, vùng bụng, hoặc lưng. Đau thắt ngực do nhồi máu cơ tim có thể kéo dài hơn 20 phút. Nghỉ ngơi và sử dụng các thuốc làm giãn mạch không làm giảm cơn đau. Triệu chứng đi kèm là tim đập mạnh liên hồi, toát mồ hôi, buồn nôn, khó thở, mặt tái nhợt, chóng mặt và bất tỉnh. Một số trường hợp nhồi máu cơ tim không bị đau thắt ngực hoặc có những triệu chứng bất thường như khó thở, mệt mỏi và suy nhược. Tình trạng này được gọi là “nhồi máu cơ tim thầm lặng”.
Chẩn đoán bệnh nhồi máu cơ tim
Trong chẩn đoán bệnh nhồi máu cơ tim, trước hết các bác sĩ sẽ khám lâm sàng và tiến hành nghe tim, đo huyết áp. Để xác định liệu có tổn thương mô tim hay không, người bệnh được yêu cầu đo điện tâm đồ và làm xét nghiệm máu. Chụp động mạch vành có thể được thực hiện ngay lập tức hoặc sau khi bệnh nhân đã ổn định hơn. Chụp động mạch vành giúp bác sĩ quyết định phương pháp điều trị nào hiệu quả nhất cho người bệnh. Ngoài ra còn có một số xét nghiệm kiểm tra tim khác là siêu âm tim gắng sức hoặc không gắng sức, nghiệm pháp gắng sức…
Điều trị bệnh nhồi máu cơ tim
Cấp cứu Bệnh nhân có triệu chứng đau thắt ngực cần được điều trị trong phòng cấp cứu.
– Dưỡng khí oxygen
– Điện tâm đồ
– Aspirin: để làm loãng máu và làm giảm sự tăng trưởng của cục máu đông.
– Glyceryl trinitrate: thuốc này có thể cho vào dưới lưỡi bệnh nhân – có nhiều tác dụng: làm thư giãn mạch máu , giảm huyết áp…
– Chống đau: morphine có thể dùng để chống đau, làm bệnh nhân bớt sợ hãi (giảm adrenaline, giảm độ nhịp tim, bớt công việc cho tim)
– Theo dõi biến chứng: loạn nhịp tim, thay đổi huyết áp Làm thông động mạch vành tim
– Điều trị nội khoa: thuốc làm tan cục máu đông (thrombolysis).
– Điều trị ngoại khoa: thò ống thông xuyên qua động mạch đùi đi vào động mạch vành tim, làm nong mạch, phá vỡ cục máu đông và mảng xơ vữa, đồng thời có thể nhét ống căng mạch (cardiac catherization & angioplasty +/- stent). Bệnh nhân nhồi máu cơ tim cũng có thể phải tiến hành giải phẫu ghép động mạch tim. Sau khi điều trị qua giai đoạn hiểm nghèo ban đầu của nhồi máu cơ tim, người bệnh cần tiếp tục theo dõi tại bệnh viện, tuân thủ đúng hướng dẫn của bác sĩ về chế độ ăn uống, sinh hoạt sau khi xuất viện đồng thời tái khám định kỳ
Có cách nào phòng ngừa bệnh nhồi máu cơ tim?
– Với những người có yếu tố nguy cơ mắc bệnh thì nên ăn kiêng để chống béo phì, ăn nhiều rau quả, hạn chế mỡ động vật.
– Chú ý điều trị hoặc kiểm soát tốt các bệnh tiểu đường, cao huyết áp, loét dạ dày tá tràng.
– Để phòng ngừa nhồi máu cơ tim, người bệnh cũng đặc biệt cần có chế độ nghỉ ngơi, làm việc hợp lý, không gắng sức quá, tránh xúc động mạnh, tập những môn thể thao nhẹ nhàng, như dưỡng sinh, đi bộ khoảng 30 phút mỗi ngày. Tránh những môn thể thao gây gắng sức, căng thẳng như các trò đối kháng.
– Ngoài ra, bạn cần hạn chế hoặc bỏ hẳn thuốc lá, các chất kích thích.
– Khám sức khỏe định kỳ để được bác sĩ chuyên khoa thăm khám và theo dõi chỉ định phương pháp điều trị hiệu quả.
Xử trí khi bị nhồi máu cơ tim
Ở người bệnh nhồi máu cơ tim thường xuất hiện những cơn đau tức ngực, khó thở và tăng tụt huyết áp đột ngột. Chính vì vậy, việc lắng nghe cơ thể của chính mình là điều quan trọng giúp người bệnh biết điều chỉnh các hoạt động ở thực tại để không ảnh hưởng tới sức khỏe. Khi xuất hiện triệu chứng khó thở, đầu óc choáng váng, người bệnh nên dành thời gian nghỉ ngơi và ngưng mọi hoạt động hiện tại để tránh tình trạng đột quỵ có thể xảy ra. Tốt nhất, người bệnh nên nằm xuống đề phòng trường hợp tụt huyết áp và tinh thần không thể tỉnh táo. Đối với các trường hợp bệnh xảy ra thường xuyên, người bệnh nên mang theo thuốc trợ tim bên mình và uống thuốc ngay khi thấy những dấu hiệu bất thường của bệnh. Trường hợp khó thở nên dùng bình thở oxy để tăng cường hệ hô hấp. Ai là người dễ bị nhồi máu cơ tim?
Nam giới trên 45 và nữ giới trên 50 là những người có nguy cơ cao nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên, kể cả những người trẻ cũng có thể có nhồi máu cơ tim nhưng tỷ lệ ít hơn. Những người trước đó đã có nhồi máu cơ tim thì rất dễ bị lại nhồi máu cơ tim lần tới. Những người có tiền sử gia đình có nhồi máu cơ tim sớm như bố hoặc anh trai có nhồi máu cơ tim dưới 55 tuổi và mẹ hoặc chị gái có nhồi máu cơ tim dưới 65 tuổi. Những bệnh nhân có đái tháo đường. Những bệnh nhân này có nguy cơ nhồi máu cơ tim tương tự như bệnh nhân đã bị nhồi máu cơ tim. Những người có các yếu tố nguy cơ cao như những bệnh nhân rối loạn mỡ máu, huyết áp cao, hút thuốc lá, béo phì, ít hoạt động thể lực là những người dễ bị nhồi máu cơ tim.
TS.BS Phạm Như Hùng
Tổng thư ký Hội Tim mạch học Can thiệp Việt Nam
Theo Tạp chí Sức Khỏe
Chưa có bình luận
Chưa có bình luận