Chẩn đoán qui ước và thực tế bệnh viêm cơ tim
Viêm cơ tim là tình trạng cơ tim bị viêm, chẩn đoán bằng tế bào học, miễn dịch học và hóa miễn dịch tế bào. Có 3 thể viêm cơ tim (viêm cơ tim phối hợp với rối loạn chức năng tim): tự phát (idiopathic), tự miễn (autoimmune) và nhiễm trùng (infectious). Nhiều tác nhân nhiễm khuẩn gây viêm cơ tim nhưng chủ yếu là viêm cơ tim do virus.Chẩn đoán qui ước và thực tế bệnh viêm cơ tim
Viêm cơ tim là tình trạng cơ tim bị viêm, chẩn đoán bằng tế bào học, miễn dịch học và hóa miễn dịch tế bào. Có 3 thể viêm cơ tim (viêm cơ tim phối hợp với rối loạn chức năng tim): tự phát (idiopathic), tự miễn (autoimmune) và nhiễm trùng (infectious). Nhiều tác nhân nhiễm khuẩn gây viêm cơ tim nhưng chủ yếu là viêm cơ tim do virus.
Chẩn đoán qui ước
Tiêu chuẩn mở rộng chẩn đoán viêm cơ tim
Bất cứ đặc điểm nào trong mỗi đặc tính phù hợp = dương tính cho đặc tính đó
Đặc tính I
Triệu chứng lâm sàng:
- Suy tim lâm sàng
- Sốt
- Tiền triệu nhiễm virus
- Mệt mỏi
- Khó thở khi gắng sức
- Đau ngực
- Hồi hộp
- Xỉu hoặc ngất
Đặc tính II
Bằng chứng cấu trúc hoặc chức năng tim bị tổn thương trong khi không có dấu hiệu bệnh tim thiếu máu cục bộ:
- Siêu âm tim: buồng tim giãn, phì đại từng vùng
- Men troponin tăng
Và
- Động mạch vành bình thường hoặc
- Không có sự phục hồi thiếu máu do phân bố máu mạch vành trong thì tưới máu trên scintigraphy
Đặc tính III
Cộng hưởng từ hạt nhân:
- Tăng tín hiệu T2 cơ tim trong pha phục hồi ngược (inversion recovery sequence)
- Đọng thuốc đối quang từ sau tiêm gadolinium-DTPA
Đặc tính IV
Phân tích giải phẫu bệnh lý cơ tim hoặc phân tử
- Dấu hiệu bệnh lý tương ứng với tiêu chuẩn Dallas
- Tìm thấy gen virus trên PCA.
Chẩn đoán thực tế
Lâm sàng thường phong phú: có thể triệu chứng nghèo nàn, chỉ có một số biến đổi trên điện tim. Nặng có thể loạn nhịp thất ác tính, sốc tim.
- Thể lâm sàng 1:
- Bệnh nhân trẻ, không có (hoặc ít) nguy cơ tim mạch
- Đau ngực.
- Có thể có sốt + hội chứng cúm (đau cơ, viêm long đường hô hấp trên, đau bụng…).
- Điện tim: nhịp tim thường nhanh, có một số NTT, có thể nghi ngờ đó là hình ảnh của HCĐMVC.
- Khó khăn trong chẩn đoán lúc này là Troponin T thường tăng
- Nếu siêu âm tim: có rối loạn vận động vùng cơ tim, buộc người thày thuốc phải nghĩ đến NMCT. Cân nhắc với những bệnh nhân quá trẻ (nữ < 25 tuổi): làm lại siêu âm tim, làm lại troponin T (theo dõi động học)
Nếu làm kỹ siêu âm mà không thấy rối loạn vận động khu trú các thành tim, troponin T không tăng tiếp tục mà có xu hướng giảm đi: nghĩ đến viêm cơ tim.
- Thể lâm sàng 2:
- Bệnh nhân tuổi trung niên trở lên
- Không có/ít yếu tố nguy cơ tim mạch
- Hội chứng cúm có + sốt + ĐTĐ không điển hình của bệnh mạch vành + Troponin không tăng động học + siêu âm tim không có rối loạn vận động vùng
- Thể lâm sàng 3:
- Bệnh nhân tuổi trung niên trở lên, có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch
- Đau ngực, HC cúm: không, không sốt
- Điện tim: rất khó phân biệt với bệnh mạch vành
- Troponin tăng động học
- Siêu âm tim hình ảnh mờ, không rõ rối loạn vận động vùng: phải chẩn đoán phân biệt với nhồi máu cơ tim (theo dõi lâm sàng, xét nghiệm hoặc nếu rất cần: chụp mạch vành
- Thể lâm sàng 4:
- Bệnh nhân xuất hiện triệu chứng đột ngột: khó thở, đau ngực và rơi ngay vào tình trạng rối loạn huyết động: nhịp tim nhanh và HA thấp ngay từ ở nhà, đưa lên viện thì tình trạng đã nặng: sốc tim
- Khai thác kỹ: trước đó có thể có sốt, có thể thấy một vài dấu hiệu nghi là cúm. Không có những cơn đau ngực trong tiền sử
- Điện tim: rối loạn nhịp thất: nhịp nhanh thất, ngoại tâm thu thất đa ổ, R/T, phức bộ QRS giãn rộng, thậm chí có bệnh nhân vào đã rung thất, ngừng tuần hoàn.
- Cấp cứu và Hồi sức tích cực
- Siêu âm tim ngay khi có thể
- Các XN kèm theo (SH + HH + ĐM)
Tài liệu tham khảo
PGS.TS. TẠ MẠNH CƯỜNG. “Viêm Cơ Tim Cấp: Cập nhật Chẩn đoán và Điều trị 2017”. Viêm cơ tim, 2017, trang 23+80.
Theo Tạp Chí Sức Khỏe
Tiêu điểm
Facebook
Google













Chưa có bình luận
Chưa có bình luận